Quay lại

Ngành nông nghiệp cần phát triển nguồn nguyên liệu để giảm phụ thuộc vào nhập khẩu

Nhiều mặt hàng nông sản của Việt Nam xuất khẩu đạt hàng tỷ USD mỗi năm nhưng sản xuất vẫn phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu nhập khẩu.

Ví dụ, Việt Nam là một trong những nước xuất khẩu điều lớn nhất thế giới nhưng vẫn phải nhập khẩu khoảng 80% điều thô để chế biến, chủ yếu từ Bờ Biển Ngà, Ghana, Nigeria, Guinea Bissau, Benin, Togo, Burkina Faso và Mozambique.

Việt Nam cũng phải nhập khẩu cá ngừ nguyên liệu để chế biến do nguồn nguyên liệu trong nước chỉ đáp ứng được 30 - 35% nhu cầu.

Theo ông Nguyễn Văn Nam, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Thương mại Việt Nam thuộc Bộ Công Thương, toàn cầu hóa đang mở rộng chuỗi giá trị toàn cầu, nghĩa là chỉ với một sản phẩm, các công đoạn sản xuất khác nhau có thể nằm ở các quốc gia khác nhau, điều này phụ thuộc vào năng lực của mỗi quốc gia.

Ví dụ đối với ngành điều, ông Nam cho rằng trong khi công suất chế biến của các nhà máy ở Việt Nam tăng lên đáng kể, sản lượng điều thô không mở rộng tương ứng do diện tích đất canh tác hạn chế và nông dân chọn cây khác có giá trị gia tăng cao hơn.

Điều này có nghĩa là Việt Nam phải nhập khẩu điều thô để sản xuất, đó là một điều hết sức bình thường, ông nói.

Tuy nhiên, sẽ có rủi ro khi Việt Nam phụ thuộc vào nguyên liệu thô nhập khẩu. Việc kênh đào Suez bị tắc nghẽn gần đây đã ảnh hưởng nặng nề đến việc nhập khẩu điều thô chủ yếu từ châu Phi và phải đi qua kênh này. Ông chỉ ra rằng đây là một rủi ro không lường trước được.

Việt Nam đã đưa ra một số chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp, bao gồm các biện pháp hỗ trợ giá hoặc trợ cấp liên quan trực tiếp đến số lượng sản xuất.

Ông Nam cho biết theo Tổ chức Thương mại Thế giới, trợ cấp phải tuân theo các giới hạn với mức hỗ trợ tối thiểu “de minimis” được phép ở mức 10% đối với các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam.

Tuy nhiên, Việt Nam đã không thành công trong việc thực hiện hỗ trợ trợ cấp cho ngành nông nghiệp do ngân sách hạn hẹp và thiếu cơ chế thị trường phù hợp.

Ông Nam cho rằng điều quan trọng là phải xây dựng các chương trình và chiến lược toàn diện để hỗ trợ nông dân và doanh nghiệp nông nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh của họ, từ sản xuất nguyên liệu thô đến năng lực chế biến cũng như phân phối.

Các chuyên gia cho rằng, việc nâng cao năng lực chế biến cũng rất cần thiết để nâng cao giá trị gia tăng cho nông sản.

Thống kê cho thấy Việt Nam có hơn 7.500 công ty chế biến nông sản quy mô lớn với tổng công suất khoảng 120 triệu tấn nguyên liệu/năm.

Trong 3 năm qua, 30 dự án chế biến nông sản được đầu tư xây dựng với tổng vốn đầu tư 1 tỷ USD.

Tuy nhiên, năng lực chế biến của Việt Nam vẫn còn thấp, ông Bạch Quốc Khang, Tổng thư ký Chương trình Khoa học và Công nghệ cho Phát triển Nông thôn mới, cho biết.

Ông Khang nói, chỉ từ 5 đến 10% sản lượng rau và thịt được chế biến mỗi năm. Ông chỉ ra rằng việc đầu tư cho chế biến không tương xứng với phát triển sản xuất nguyên liệu.

Theo Chỉ thị số 25/CT-TTg ngày 4 tháng 6 năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ, Việt Nam đặt mục tiêu trở thành một trong 10 quốc gia hàng đầu thế giới về chế biến nông sản và trung tâm thương mại nông sản.

Các chuyên gia cho rằng, để đạt được mục tiêu này, phải tập trung nâng cao năng lực công nghệ chế biến và bảo quản.

(theo Bizhub – TL, ITPC)